(KHOA VĂN - GỐC NHÃN - SÂN THƯỢNG NHÀ A7
( Bài copy trên mạng nhân ngày 20/11)
Dưới
sân A7 có hai gốc nhãn. Người ta trồng ngay lối cửa cầu thang hẳn cũng
có ý để cho những người chờ đợi nhau có tán cây che nắng. Gốc nhãn mòn
vẹt, nhẵn bóng bởi nó trở thành chỗ dựng xe cho các chàng tới tìm hiểu
con gái Khoa Văn. Hai gốc nhãn ấm tán lâu rồi, nhưng vẫn còi cọc (mà
người hồi ấy cũng còi cọc nói gì cây). Với các cô sinh viên năm nhất,
chưa có người yêu, ở tầng hai, nơi người ta gọi là "xóm trại", thì hai
gốc nhãn còi đầy muỗi dĩn đứng bên những vũng nước bẩn trước mấy ô cửa
sổ ấy không có gì là hay hớm. Đối với các cô gốc nhãn chỉ là nơi có bà
bán xôi sắn, hay cô bán khoai lang sắn luộc buổi sáng, nếu đói thì chạy
xuống cầu thang là mua được ngay. Chỉ những đêm trăng sáng, A7 mất điện
(hồi ấy mất điện kinh niên) ở tầng hai nhìn xuống sân các cô mới thấy có
cảm tình với cây nhãn ấy tí chút bởi nó là điểm hẹn hò hay chia tay
nhau chả biết nữa của những đôi tình nhân trẻ. Họ dùng dằng chưa nỡ rời
nhau bởi giận hờn hay quyến luyến bên gốc nhãn nào thì chỉ có gốc nhãn
ấy biết mà thôi.
Hồi ấy thi thoảng sinh viên được xem phim, kịch.
Sang thì có phim ở rạp: phim "Những người khốn khổ", "Sông Đông êm đềm" ở
rạp Tháng Tám, kịch "Âm mưu và tình yêu" (Sinle), "Đôi mắt" (Vũ Dũng
Minh) ở nhà hát lớn. Lần đầu được đến những nơi phim kịch rất tuyệt như
thế (ở nhà thì chỉ có phim chiếu ở bãi hoặc sân đình, sân kho hợp tác).
Nhà trường phát vé, sinh viên tự đi. Cả bọn háo hức đi từ sớm, leng keng
tàu điện từ Cầu Giấy - cổng trường Giao thông rồi cứ mặc kệ cái toa tàu
chở mình qua Hàng Bông, Tràng Thi ra Bờ Hồ, rồi xe căng hải đưa đi tìm
nhà hát. Bọn khôn hơn thì sắm xe quay, tức là tìm người chở đi ấy. Tiêu
chuẩn là phải có xe đạp, và cũng phải galăng tí chút, nếu có tí cảm tình
nữa thì càng hay. Và muốn có xe quay thì phải có vé cho xe nữa, điều
này thì quá dễ bởi có nàng lười đi nên gán vé cho bạn, hoặc đổi nhau lần
này ấy cầm hai vé, lần sau đến lượt tớ. Thế là thêm hình ảnh chàng gò
lưng đạp xe, nàng ngồi sau thỏ thẻ lãng mạn phết. Phim chiếu tại trường
thì hầu như thường xuyên theo tuần, toàn chiếu phim Liên xô: "Thép đã
tôi thế đấy", "Khi đàn sếu bay qua ". . . Đi xem là ra sân vận động,
đứng ngồi lố nhố, và tất nhiên khối người đến bãi đâu phải chỉ xem phim.
Phim có cảnh đôi tình nhân hôn nhau, người xem ì xèo, người ra vẻ hiểu
biết giải thích rằng thì là ở Tây đấy là chuyện thường ngày ở huyện. Có
nàng ngây thơ hỏi sao họ lại thế nhỉ, chàng chép miệng ra vẻ sành điệu:
"Chuyện, Liên xô mà lị". Đến khi tan phim, tiễn nàng về đến gốc nhãn sân
A7, nàng thỏ thẻ với chàng: "Anh Liên xô em đi . . ."
Sau này sinh
viên bớt ngây thơ hơn, tối nào cũng có dăm đôi đi hôn nhau chán chê rồi
về qua gốc nhãn là y như rằng nổi cơn nghiện hôn nhau lần nữa. Đất dưới
gốc cây vì phải chịu cú đúp trọng lực trở nên cứng chả khác bê-tông,
nhãn cằn không lớn được. Nó độc thân đứng đấy, không chết vì bức xúc,
tăng-xông là may cho nó lắm...
Cứ như thế nhiều năm... Gốc nhãn thành chứng nhân cho cả một thời tuổi trẻ.
Sân
thượng nhà A7 cũng là nơi có nhiều kỷ niệm với sinh viên Khoa Văn thời
ấy. Đó không chỉ là nơi trực chiến của những "con mắt phía tây thành
phố" trong những tháng năm bão lửa. Đó còn là nơi hẹn hò, tình tự, nơi
sinh viên Khoa văn tìm đến lắng mình trong những lúc vui, buồn. Lúc vui
thì chạy lên đó hét toáng lên, lúc buồn thì leo lên mà khóc vùi cho nhẹ
lòng.
Dạo ấy, với sinh viên Khoa Văn, sân thượng A7 là cao nhất. Đứng
trên ấy ngắm toàn cảnh nhà trường thật khoái. Những đêm rằm sao có cảm
giác trăng gần mình thế... Buổi tối thứ bảy và chủ nhật từ sân thượng A7
nhìn xuống trước nhà: chui cha, lắm xe quá trời! Hình như bọn con trai
các trường đều đổ xô đến A7 mình hay sao ấy. Ngày ấy sao mà vui thế!
Buổi
tối cuối tuần các cô sinh viên Khoa Văn thường rủ cả bạn trai lên sân
thượng ngắm sao trời. Có cô sinh viên lên đó đầu tiên là với người yêu,
sau là những khi buồn. Những lúc buồn ấy thường có một người bạn trai
đứng cùng. Cô có thể khóc, có thể im lặng. Người bạn trai cũng chỉ im
lặng, hoặc cùng lắm khi cô khóc thì rụt rè nắm tay cô mà không nói gì.
Sự sẻ chia đó thật ấm áp....
Còn những chàng trai Khoa Văn sau khi đi
"thả giọng trầm" (tán tỉnh các cô) thành công hay không thì cũng lên
đứng trên sân thượng suy tư rồi ngượng nghịu làm thơ... Nhiều nhà thơ
xuất thân từ Khoa Văn bắt đầu sự nghiệp thơ ca của mình như thế...
A7
nay không còn là ký túc xá. Gốc nhãn xưa cũng không còn. Còn lại những
hồi ức. Sinh viên Khoa Văn ngày ấy bây giờ nhớ về A7 như nhớ về tuổi hai
mươi ra đi không bao giờ trở lại của mình. Ta cùng chia sẻ với họ khi
đọc những dòng thơ làm sống lại cái thời vô tư ấy!
EM CÓ VỀ A7 CHÚNG MÌNH XƯA
THAI SẮC (Cai Văn Thái)
Em có về gõ nhịp guốc cầu thang
Sau buổi học tan ồn ào trưa nắng
Ôi cái ồn ào khiến lòng yên ắng
Đời học trò da diết nhớ em ơi
Em có về góp chung tiếng cười
Với bè bạn chật căng ô cửa sổ
Những chiều hồn nhiên như là trẻ nhỏ
Có bao giờ gặp lại nữa đâu em
Em có về mài miệt với từng đêm
Trang giáo trình tóc nghiêng về chợt ngủ
Ôi những đêm đông nối mùa thi cử
Một chút lạnh lùng tìm lại chẳng gặp đâu
Em có về gốc nhãn đợi chờ nhau
Thứ bảy hoàng hôn mắt nhìn thắc thỏm
Người bạn trai nào có còn đến đón
Công viên chờ xao xác lá nào bay
Em có về với mỗi sớm mai
Góp tà áo khoe sắc màu sân nhỏ
Chung dòng nước chảy vào lòng bể đó
Âm thanh nào cũng gợi nhớ lòng ta
Em có về A7 chúng mình xưa
Nơi gắn bó suốt một thời kỉ niệm
Tìm lại chút ấm nồng còn lưu luyến
Bốn năm trời ta gửi lại nơi đây .
5.1982
A7 CHÚNG MÌNH XƯA
THAI SẮC
A7 chúng mình xưa có còn để tìm về
Ta lạc lối giữa sân trường kỷ niệm
Tháng ngày xa bảng lảng chiều sương tím
Tóc dài nay phác một nét thơ buồn.
A7 chúng mình xưa ai về để nhớ thêm
Gốc nhãn còi chân cầu thang chật bước
Nhịp guốc gõ một thời thân thuộc
Tiếng nước khuya dưới lòng bể mỏi mòn
A7 chúng mình xưa ai về để còn thương
Gió kỷ niệm cứ nghiêng chiều sân thượng
Tiếng ghita bập bùng xanh gác xép
Gợi một thời yêu sống với Khoa Văn
A7 chúng mình xưa ai về để tìm nhau
Những ô cửa mãi chật căng khát vọng
Bốn năm xưa như vẫn bền nhịp sống
Như vẫn còn neo lại giữa thinh không.
Đông về lành lạnh
Theo con đường lên đê đi qua ngôi chùa hôm nọ có cây ngọc lan dừng lại nhìn:
- Hôm nay vẫn có hoa,mùi thơm không như hôm nọ.
Đông
về giữa tháng 11 rồi, là mùa hoa hoàng lan đấy, vẫn nhớ bông hoa ấy dài
dài màu vàng thật thơm, nhớ thêm cả số nhà 11 B ngõ Yên Thế (là nhà bác
ruột ở khi xưa thường rẽ qua mỗi khi đi tàu Vĩnh Yên Hà nội về)
Một phần là vì ngoài ngõ thời ấy vào mùa này có cây hoa hoàng lan nở hoa mùi thơm thật là thơm.
Cũng nhớ có lần về muộn,ngồi nhà bác ruột,chị gái con bác có bạn trai đến chơi. Bác giai bảo:
- Lấy đứa nào thì lấy đi,nay thằng này đến,mai thằng kia đến
Rồi chị cưới.
Cả nhà thất vọng.
-
Chồng chị là một kỹ sư nhỏ người da đen, chứ không cao to đẹp giai như
mấy thanh niên đến nhà mà mình vẫn nhìn thấy (mà chị lại đẹp gái có
tiếng trong ngõ)
Lúc ấy liên tưởng đến cái câu dân gian hay ví von " Hoa nhài cắm bãi cứt trâu.."
Khám phá thêm một điều ở tuổi thanh niên:
- Đối với đàn bà hình thức cũng đếch quan trọng,rồi cười cười cái câu hồi ấy..Đẹp giai đi bộ không bằng mặt rỗ đi lơ..
Dễ đến mấy chục năm từ nhà bác ruột đi khỏi nơi ấy.
-Hay là hôm nao lại đến ngõ cũ, đứng ngắm nhớ về quá khứ rồi hít hà mùi hoa quen mà lâu lâu chưa gặp?
Lại đi tiếp.
Nhớ đến một bài viết của mình được đăng báo có tên là hoa Hoàng Lan, nhớ đến nhân vật chính trong bài viết ấy..
Cũng có một lần đầu đông như thế này,ngồi uống cà fê với nàng ở đường Nguyễn Chí Thanh..
( Có lẽ cũng chả có lần thứ hai nữa?)
Đông về đã được nửa tháng.
Đi
trên đê sông Hồng, nhớ đến cảm xúc có được khi viết câu chuyện ấy với
nem Phùng,với cái ngất ngây của rượu Bá và vùng đất xứ Đoài..
Nay đúng là đông , cài lại cái khuy của chiếc áo cũ mặc đúng hôm gặp nàng vào mùa đông năm nọ
Khe khẽ cất lên một giai điệu nhiều người thuộc:
- Em ơi Hà Nội phố, ta còn em mùi Hoàng Lan,ta còn em mùi hoa sữa...
Đúng là đã lâu lắm rồi,chưa gặp lại mùi hoa hoàng lan thủa nào xa xa lắm.
Bản Giốc
(Thơ Lữ Huy Nguyên đăng báo Tiền Phong số 13/02/1979)
Chép lại nhân một chiều đông đọc một bài viết ở đâu đó về Thác Bản Giốc http://caobangtv.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Chinh-tri-63/Su-that-ve-chuyen-Viet-Nam-mat-thac-Ban-Gioc-401)
Dòng thác bạc sáng rực trời Bản Giốc
Sông Quây Sơn hoa cát nở bồng
Thung lũng cỏ đẫm xanh sa mộc
Con cá trầm hương thơm bữa cơm đồng
Dòng thác réo sôi trào đổ võng
Tâm hồn tôi theo con thác lao
Tiếng nước động i âm vách núi
Ngọn cây cao rung gió ào ào
Những mầm đá nhấp nhô bàn thạch
Cây cối già kết nụ thời gian
Ngọn thác xa,hơi bay như khói
Bụi nước trắng trời Đàm Thủy mây giăng
Tôi ngụp bơi tắm nắng dòng sông
Bè nứa cầu phao vặn mình sóng vỗ
Cồn cát Pò Thom, một doi đất nhỏ
Bỗng hóa thành điểm nóng mấy năm nay
Tôi mặn lòng nắm chặt những bàn tay
Từng vượt sóng dựng nhà trên chốt
Đêm xuân ấy..trở trời gió bấc
Vành trăng liềm,lá lúa đỏ khay
Tôi gặp em,em quê Nà Ay?
Hay Bản Nưa,Keo Tàn,Lũng Niếc?
Có phải em đếm lao cầu lũ thác
Nước xói lưng trần, cát rát vai?
Những ngôi nhà mở cửa hướng ban mai
Màu ngói ống rêu phong như cổ tích
Bài hát lượn,trong tầm xạ kích
Trời biên thùy đông gió chẳng ngừng im
Những hàng rào xếp đá chân đồi sim
Tiếng đàn tính rập rờn khung cửa sổ
Cánh cò trắng rợp trời,trưa vỡ cỏ
Lốc cốc trâu đàn tiếng mõ khuya
Chia tay em trong vàng nắng nương ngô
Thăm cồn chốt,bàn chân tôi dẫm đất
Hàng dây điện chim rừng đậu hót
Tôi lặng nhìn muốn hót cùng chim
Tôi chậm về sau mấy trăm đêm
Bản Giốc mình đã kiên cường giữ đất
Pò Thom ơi! Nhỏ nhoi doi cát
Máu đổ rồi trên sông Quây Sơn
Đơn vị dân quân chốt giữ bãi cồn
Những chàng trai bản quê,chân thật
Những cô gái chưa qua tuần trăng mật
Nét hài hòa trong tranh dân gian
Ước hồn tôi âm hưởng một cây đàn
Tôi sẽ dạo bài ca trên sóng nước
Mỗi nốt nhạc hóa mầm cây ủ hạt
Gieo đều lên cồn cát một mùa vui
Dòng sông quê còn có lúc đầy vơi
Con thác dội vẫn đêm ngày nhắc nhở
Thắm đỏ hoa đào,trắng mùa hoa sở
Tổ Quốc là vạt đất được trao tay
Chẳng có gì huyền thoại ở nơi đây
Bản Giốc đẹp,thần tiên mà rất thực
Đêm dần xuống khoảng trời thu trầm mặc
Cầm canh, tiếng thác đổ bờ quen
Về chốt ai ngờ gặp em
Vẫn cây đàn tính mắc đầu hiên
So dây,tôi gảy mời em lượn
Bếp lửa sông rừng cháy suốt đêm
Sáng qua qua đò, xuống đò rồi mới nhìn thấy cạnh tay lái đò chả có cái phao nào ( Bến đò năm mẫu HY 0434) cũng ca mơ run:
-Nay lạnh thế mà lâu lắm chả bơi biếc gì? Dạo này bụng lại to như mấy em chửa ba tháng nữa.
Liều.
Chiều về gặp mâý anh công an đến thăm bến đò,có một anh mang cái máy quay ca mê ra đến quay quay
Nghĩ bụng:
- Chắc họ làm biên bản là phải có phao với cấm chở ô tô đây?
Tay đại úy công an (kém mình đến hơn hai chục tuổi) vấy tay lái đò ra xe, đúng lúc ấy tay chủ bến đò lao từ trong làng ra
Lúc sau tay lái đò lại quay lại và lên đò:
-Đò vẫn đi tiếp , chẳng có biên bản nào được lập và áo phao nào được mang ra?
Lên đến dốc bên Thường Tín, gặp một cái ô tô đi xuống, đi tý nữa có cái biển đề chữ " CẤM Ô TÔ"
Chả biết thế nào?
Mai có đi lại quay về đò Phương Trù vậy, ở " Cái máng lợn sứt" ấy vẫn thấy người ta treo áo phao ở cạnh tay lái đò..
Cách
đây tầm bảy tám năm chỗ chợ Kệ này đường là đường đá chưa rải nhựa, sau
cơn mưa có những vũng nước ngập. Đây là làng Công Giáo,không biết dân
Công Giáo chỗ khác thế nào chứ đây Giáo Dân họ hay xơi thịt chó lắm,chợ
Kệ bán đầy thịt chó.
Xưa lúc bố tôi còn sống,một bệnh nhân được bố
tôi cứu sống ở đây, vì ơn cứu mạng nên ngày giỗ chạp có thịt chó bác ấy
hay mời bố tôi xuống. Những năm ấy đường đi từ BV Việt Đức chỗ phố Tràng
Thi xuống đến chơ Kệ là cả một quãng đường dài, mà lại mưa phùn gió bấc
như hôm nay.
Tôi vẫn thấy mẹ tôi hay lầu bầu:
- Bố mày, ai mời chén xa mấy cũng đi..
Tôi nhìn mẹ tôi và nhìn mâm cơm chỉ có dưa cải muối với bát nước cà chua với ít lạc rang ngạc nhiên.
Mẹ tôi tuy làm nghề y nhưng không hiểu rằng:
-
Bố tôi thường phải mổ gan, mật , dạ dày, ruột già, ruột mỏng những lúc
gặp ca mổ khó thì phải đứng đến sáu tiếng ban đêm, mờ tiền bồi dưỡng cho
một ca mổ BV trả thì không bằng mấy tay ngồi gốc cây vá một miếng vá
cái săm xe đạp.
--------------
Nay địa phương có Chợ Kệ được sát
nhập vào Hà Nội, mang tiếng là Hà Nội 2 nhưng đường xá đẹp hẳn lên, tết
này chú em ở Nhuế Dương ra nếu nó đi được tôi dẫn nó đi từ nhà tay Thu
Lân hàng xóm qua chợ Kệ đến bến đò Phương Trù rồi qua Đông Kết về Nhuế
Dương để nó chụp ảnh, chú ấy bỏ quê lâu rồi chỉ biết mỗi đường về Nhuế
Dương qua đường Phú Xuyên với bến đò Vườn Chuối thôi.
Nọ.
Hà Nội kỷ niệm năm năm ngày Hà Tây sát nhập vào Hà Nội , người quen của tôi có bảo:
- Chú viết bài về nông thôn Hà Nội đổi mới đi.
Tôi trả nhời:
-
Chả biết viết về cái gì? Chẳng nhẽ viết về đất ở Vân Canh đương ế, viết
về cái thành phố nhỏ nhỏ sơn màu trắng bỏ hoang ở bên tay phải đường
đại lộ Thăng Long từ Hà Nội lên Xuân Mai đương nổi lên giống quang cảnh
trong phim ngày xưa về Trung Á Những lâu đài ở giữa sa mạc?
---------------
Tôi
quen một em thật xinh , ở đối diện bách hóa Thanh Xuân Bắc, có nhẽ nàng
thích ăn giồi lợn,với lòng mề tim gan ( Tôi đoán thế vì nọ nàng maket
ting cho quán Cháo lòng ở gần khu Nội chính quận Thanh Xuân ?) một lần
nàng bảo tôi với tay buôn gạch gần Trâu Quì:
- Nao cháo lòng đê...
Tôi
thấy Hà Nội bé bằng cái bàn tay, có lần tôi với bạn tôi là một cô giáo
thật xinh học ở Khác Cốp U cờ ren với mấy người nữa ngồi chỗ Ngan Khoa
Hai Bà Trưng
Đương chém gió trầm bổng, tôi dừng lại:
-Chị ruột vợ
tôi với mấy người nữa cùng vào ( Chị ấy học kinh tế Khác Cốp và biết cô
giáo xinh xinh người Hải Dương kia là bạn tôi từ thời ở bên ấy).
Nay
tôi đi chợ Kệ, cũng như mọi lần cố ý ngó nghiêng có ý tìm quán cháo lòng
ngon hơn ở chỗ Hacinco mà cô em đeo kính đen (tôi quen) hôm nọ đã ma
két tinh ấy, cũng định bụng :
-Nếu tìm được rủ tay buôn gạch với em ý xuống đây cho nó hương đồng gió nội
Đương giơ máy ảnh lên để ghi vào cho khỏi quên,bỗng thất kinh nghe ai đó nói:
- Không mua thì chụp ảnh làm cái gì?
Chán
Cụt mất hứng, thôi đi vậy..( Thế là chửa tìm được quán cháo lòng với tiết canh)
- Nay mười chín âm, ra ngõ rõ ràng tôi đã bước chân phải mà vẫn còn đen thế không biết nữa?




Nay
giở tờ báo cũ được phát hành vào ngày 20/2/1979 có in mấy lá thư của
một giáo sinh gửi cho một đồng chí bộ đội trên Hoàng Liên Sơn và gửi về.
Những năm ấy tôi đóng quân ở Vĩnh Phú như đã viết rồi
Thế là tôi viết thêm một tý về những lá thư thời chưa có điện thoại di động và intơnét.
Nọ
Tôi
có đọc bài viết nào đó của một cô giáo ở trường đại học sư phạm 1 ,mà ở
đấy cô giáo dạy văn có kể chuyện ngày xưa đã viết thư cho mấy anh bộ
đội trên biên giới và đi thăm đơn đơn vị tên lửa nào đó ở cánh đồng
làng Đa Sĩ Mậu Lương xã Kiến Hưng tỉnh Hà Sơn Bình.
Rồi tôi lại đọc
tình sử " An giê lích" của tay sĩ quan tên lửa tên có bí danh là " Ruổi
Thuyết" hưng phấn viết ra sau khi đọc câu chuyện có thật kia.
Trong những bài viết ấy họ đã kể đến Khoa Văn,Khoa Hóa,nhà A7 và gốc nhãn.
Hồi ấy ( Đúng năm 1979)
Tôi
chả quen cô nào ở Sư Phạm 1, cơ mà mấy tay Hà Nam Ninh thì có, đầu năm
1979 tình hình căng lắm, mấy tay ấy nhận thư của các em giáo sinh đại
học sư phạm 1 viết lên rất hay. Hôm nọ tôi có việc đi lên Nhật Tân, đi
đúng cầu vượt cắt qua quốc lộ 32 tôi dừng lại nhìn chếch sang bên phải:
- Nhà A7 gốc nhãn họ kể trong những ký ức ở đằng kia?
Tôi không tưởng tượng ra được,vì ngay cả những nhân vật chính bây giờ họ vào đấy còn lạc nữa cơ mà
Tối nay rỗi
Tôi
ngồi đọc hai lá thư đi thư về đề ngày 2/1/1979 với ngày 18/1/1979
được đăng tải trên một bài báo xuất bản vào ngày 20/2/1979 sau khi Tàu
đánh ta được 3 ngày- Tầm giờ năm ấy có nhẽ tôi vẫn đương tập bắn súng?
Có thể rằng:
-
Người gửi đi nay đã lên bà Nội ( Hoặc bà Ngoại ) giống như một cô giáo
dạy văn ở chùa Thầy, còn người nhận và viết thư trở lại chả biết còn
sống sau mấy chục ngày chống trả quân TQ đánh ta ở mặt trận Hoàng Liên
Sơn đến tháng 3/1979 và sau này đến năm 1988 sau khi chiến trận ở Vị
Xuyên kết thúc không?Nếu còn có nhẽ người ấy cũng đã về hưu,chăn bò
trồng lan như anh"Ruồi Thuyết " đã nhăc ở trên cũng nên..?
Thôi cứ
giới thiệu hai cái thư được đăng báo lên đây vậy, hy vọng rằng ai đó hậu
sinh,sinh sau năm 1979 biết thời đó chúng tôi đã sống như thế nào?
Nay đông, đúng hôm rét, tôi lại khăn gói quả mướp sang Tứ Dân
Trên đò tôi có nói chuyện với một chị buôn Ngan từ chợ Hà Vĩ sang Tứ Dân
Chị bảo:
- Tớ trước 30 ngày đi cả 30 ngày đi đò Phương Trù,giờ chán đi đò ấy đi bên đò Năm Mẫu.
Ngó mấy con càng cạc, tôi thấy như bát tiết canh ngan với chai rượu nút lá chuối đâu đây..?
Chà.
Rét
này mà chui vào chỗ nào ấy làm bát tiết canh ngan, xong đâu đó cầm cái
đùi ngan gậm, rồi có tý sắc xém thì cũng thú vị phải biết nhỉ?
Đương mơ màng,giật mình bởi chị buôn ngan hỏi:
- Chú về đâu
Tôi đáp luôn
- Em về An Vĩ
Chừng chửa tin,chị ấy lại tiếp
- An Vĩ nào?
- Thôn Trung chị ạ, chỗ có cái quỹ tín dụng nhân dân mới xây to ấy
Chị ấy nhoẻn miệng cười:
- Đồng hương rồi, tôi người An Vĩ đấy, lấy chồng Đông Kết nhà ngay đường bê tông bên kia đê.
Cũng cười với chị.
Lại
nhớ hôm nao,đúng ngày chủ nhật hôm ấy tôi cũng sang huyện Khoái, xong
việc tôi mới rẽ chợ Đại Tập mua cân thịt để về nhà mẹ chú em (ở Lan Đình
Nhuế Dương) chơi.
Vợ chồng tay bán thịt nhìn thấy tôi ăn mặc dáng thị thành với cái xe máy có biển 29 mới hỏi:
- Chú ở đâu mà đi chợ này?
Thật thà tôi trả lời anh chị ấy:
- Em xa quê lâu, tiện đi công tác ghé qua thăm họ hàng, quê em qua Thuần Hưng, qua Quan Xuyên là đến
Anh kia vừa đếm tiền tôi trả vừa bảo:
- Tôi cùng quê với chú đấy, cơ mà lấy vợ Đại Tập nên bán hàng ở đây..
-----------
Rồi đò cũng đã sang sông
Đi
cùng với chị buôn ngan một đoạn đường, tôi nhớ đến sáng ngày hôm qua,
cũng mưa phùn,cũng lạnh, tôi ngồi cà fê với người đồng hương một lúc. (
Nàng có việc ở quê ra phố)
Sáng ấy, nàng không đeo kính viễn, thật xinh trong bộ vét kiểu cách.
Vừa
đi Tôi vừa nhớ đến buổi cà fê sáng hôm qua và những câu chuyện không
đầu không cuối với nàng ,thì đứt quãng bởi tiếng chào của chị ấy:
- Chào chú nhé,tôi đi trước đây cho kịp buổi chợ.
Tôi cũng chào chị ấy,rồi quay về với công việc của mình.
Tối về
Nhớ đến cái ảnh chụp sáng đông lúc trên đò sang huyện Khoái, tôi vừa post lên vừa nói với mình rằng:
-
Câu chuyện sáng nay của tôi với chị buôn ngan, buổi cà fê sáng hôm qua
mà tôi vừa nhắc đến ấy, đã trở thành kỷ niệm rất chi là ngọt ngào rồi.
(
Riêng chuyện về chơi làng Lan Đình gần bến đò Vườn Chuối thì có nhẽ
được uống rượu với chú em bán quê đi mới thì mới có thể nhớ trong đầu mà
viết thành văn được)
Nghĩ mãi không biết đặt tên cho bài viết sớm
đông trên đò sang huyện Khoái như thế nào? Chợt nhớ câu thơ mà mấy tay
bỏ quê bán xới đi tìm miếng cơm manh áo hay ngâm:
-Tổ quốc giầu đẹp đâu cũng là quê hương
Tôi đặt tên luôn bài viết này ĐỒNG HƯƠNG cho nó gần gũi,với lỵ bình dân.