Sơn La nóng là thế mà về đến Hà Nội mưa sụt sùi, sáng lăn trên
giường xuống dưới đất ra bến xe Giáp Bát đi Bỉm Sơn, lên xe thằng phụ xe
thu tiền ngay và khóa cửa luôn, thế là không kịp mua gì nhét bụng mặc
dù xe nó nổ máy ở đấy gần tiếng.
Xe chạy nó đua với các xe khác để tranh khách, rồi cũng đến Bỉm Sơn
Làm việc xong, chú em nhắn tin trên điện thoại :
- Anh xong việc bảo chúng nó đưa đi Đền Sòng Sơn mà lễ, ở đấy thiêng lắm.
Mới hỏi lại:
- Thiêng thế nào? Chú có đi không?
Lại đọc được tin nhắn
- Dân Hà Nội vào lễ đầy mà, em ở nhà ngày rằm mồng 1 là đi,em đi vắng thì vợ em đi
Thì đi, sáng định chiều về sớm vào chơi chú em ở Ninh Bình rồi rẽ vào Bái Đính, mà như thế này thì không định được nữa rồi.
Cơm xong, nước nôi rồi ra đền Sòng Sơn, đền ngay cạnh đường bên ngoài
có cái cổng bằng đá thật to là nơi thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh, mua công
đức xong mới vào trong để lễ nhận thấy bên trong người xúm đông xúm
đỏ,gian ngoài với gian trong người ta đang lên đồng, còn gian hậu cung
có một đám người xì xụp khấn vái, ở gian ngoài hầu đồng là một người đàn
bà ngoài 50 tuổi đương thay áo vàng,kiềng vàng mới vào nên không để ý
hầu đồng đến giá thứ mấy
Gian trong là người đàn ông ngoài 60 tuổi đang vào giá ông Hoàng Mười
nhún nhún giơ bó hương, đứng một lúc xem người đàn ông hầu đồng sang
giá ông Hoàng Bảy, cũng giống như giá ông Hoàng Mười hua hương, múa kiếm
gỗ, phi ngựa, lâu cũng xem hầu đồng ở đền Khương Đình (Gần nhà cũ) đến
ông Hoàng Mười xóm chợ Củi thấy người đàn ông này múa cưng cứng.
Tự bảo:
- Mình mà múa thì dẻo hơn tay kia, cơ mà múa các em xồn xồn ngồi quanh đấy bu vào xem rồi chết ngạt
Khấn khứa đâu đấy rồi về
Chú em lại nhắn:
- Anh nhớ chụp cho em ảnh cô Tình đeo một trăm cây vàng bán đồ cúng
lễ ở ngoài cổng đền Sòng em kể mà ở dưới này bọn thằng Hưng với thằng
Kiên không tin
Vẽ chuyện, cứ vào Google mà tra có gì mà không tin? Bây giờ vô ý đánh
cái ” Dắm to” lúc sau tra trên mạng là có ngay mà, đấy cái chuyện ngôi
sao điện ảnh đã tắt từ lâu rồi giờ mỗi chuyện mất cái nhà mà họ chẳng
tiếc giấy mực để mô tả còn gì nữa, ừ thì chụp.
Mới quay lại mấy hàng bán vàng mã và đồ thờ hỏi thăm mấy người bánh hàng:
- Thưa chị, cho hỏi khí không phải, chẳng hay cửa hàng bán vàng mã đồ thờ nhà cô Tình đeo một trăm cây vàng ở đâu ạ
Theo cái hất hàm của một người bán, chạy ra đằng kia:
- Nàng đấy sinh năm 1973 mặc cái áo khoác mầu cam cổ rụt lại vì đeo quá nhiều vàng, ngồi cạnh một cô áo đỏ
Nhìn thấy chụp ảnh, nàng hỏi :
- Chụp gì? ( ý chừng có nhiều người chụp ảnh quá rồi)
Mới chống chế:
- Chụp để lần sau nhớ vào mua vàng mã thế thôi, cũng đếch dám thú nhận chụp cho thằng Hưng, thằng Kiên nó xem
Trên đường ngồi trên xe về Hà Nội, mới nghĩ bụng:
- Em ý chăm chỉ kiếm ăn, mặt mũi chả đến nỗi nào, của hồi môn cũng
lắm cơ mà vẫn chửa có chồng, thôi tối về biên ra, biết đâu ai đó thấy
hợp có địa chỉ đến để tìm hiểu, chứ tối về cơm nước xong, cái nhà em kia
ngồi bỏ vàng ra đếm, chắc cũng chẳng vui gì.

Thấm thoắt cũng mấy năm rồi chưa quay lại Khau Vai.
Cũng vẫn nhớ:
- Bây giờ đến Khau Vai dễ đi rồi,không còn heo hút nữa,từ Khau Vai đi
xuống sông Nho Quế rồi ngược lên thượng nguồn có những ba nhà máy thủy
điện của Bitexco. Khau Vai không còn hoang sơ như mọi người vẫn tưởng
nữa, hôm nọ đăng lại một bài viết đã lâu ” Khau Vai trong một ngày không
có phiên chợ” Em đọc và dẫn mấy câu thơ của nhà thơ Trần Hòa Bình,mới
tìm bài thơ ấy và đọc lại, gặp lại những suy nghĩ của lứa tuổi 18,19
tưỏng chừng đã quên từ lâu:
“Nếu một mai mình không lấy được nhau
Em có đi tìm anh
Qua điệp trùng đá sắc
Những Khau Vai bầm dập dấu chân người?”
Mỉm cười,chả nhẽ viết ra tờ giấy đến trường mẫu giáo nào đó, rồi giúi
vào tay bà nội đang đón cháu và nháy một bên mắt với người ấy rồi khẽ
khàng :
- Đọc đi
Thì cũng là tưởng tượng như nhà thơ ( Người đã mất cách đây 6 năm vậy)
Nay một ngày đầu tháng ba, chợt nhớ chuyện hôm nọ, đọc lại bài thơ với
mấy cái ảnh về Khau Vai mình chụp trong một ngày đầy nắng, cũng nhắc
thầm với mình:
- Khi nào bố trí được lại một lần về với với Mèo Vạc và Khau Vai

Suối mơ.
Năm ấy, vùng Thạch Lâm - Thạch Thành chưa có con đường Hồ Chí Minh chạy qua như bây giờ, khi ấy nếu ai đó muốn vào đến Thạch Lâm phải đi xe từ Hà Đông đi Yên Thủy, đến Lâm Hóa là địa bàn của huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình , rẽ tay phải rồi đi qua một cầu treo bắc qua con sông Bưởi, lại cứ theo con đường đất có chỗ rải đá, có chỗ không ( người ta bảo đó là đường tắt của bộ đội ngày xưa huấn luyện mở mạn Tân Lạc Hòa Bình đi vào tây Thanh Hóa để đi B) là vào đến Thạch Lâm Thạch Thành Thanh Hóa đi một tí nữa đến sông Ngang, tuy là đất Thanh Hóa nhưng đây lại là bìa rừng Cúc Phương . Bên trái đường gần xóm Ngoeo của người mường Thạch Lâm có một cái nhà nhỏ của mấy người gác rừng.
Xóm Ngoeo ta vừa nhắc đến ấy khi đó có cỡ chừng độ hai chục nóc nhà của người mường, ở đấy có một lớp học dạy chữ lớp 1 lớp 2 cho mấy đứa trẻ con trong xóm , tuy những người mường ở xóm Ngoeo họ trồng lúa, trồng ngô bên này sông Bưởi, nhưng hàng ngày những người phụ nữ thưởng lội qua sông Bưởi vào rừng Cúc Phương để chặt chuối rừng mang về cho lợn ăn , khi lội quay về, họ tranh thủ tắm ngay giữa suối trước khi họ vác thân chuối về nhà.
-------------
Ở xóm Ngoeo thời ấy cũng có một đội công nhân đóng quân ở đấy, họ đổ bê tông để làm mấy mố cột điện được chôn ở bìa rừng,mỗi lần đúc móng cột điện cánh công nhân phải sang bên kia suối làm sớm.
Có một lần cánh công nhân ấy phải đi đổ bê tông từ sáng sớm, hôm ấy vào lại vào ngày hè, họ làm từ 5 h sáng đến 10 h sáng là đã mệt lắm rồi, ở vùng này 10 h trưa nắng cũng đã oi lắm.Đúng vào lúc nghỉ trưa, anh kỹ sư làm ở đấy cùng với một cậu công nhân ra bờ suối ngồi dưới lùm cây cho mát, cũng lúc ấy, ở bên bờ bên kia có hai cô gái trẻ là giáo viên của lớp học ở xóm Ngoeo ra bên bờ suối, hai cô định làm gì đó rồi cứ đứng nhìn sang bờ bên này,nơi có anh kỹ sư và cậu công nhân đang ngồi tránh nắng. Như hiểu ra anh kỹ sư bảo cậu kia:
- Ra chỗ khác đi cậu ạ, mấy cô kia cũng đang muốn tắm cho mát
Cậu công nhân kia ngoan cố:
- Kệ anh ạ, cứ để xem hai cô kia làm gì ?
Chờ một lúc lâu không được, hai cô đỏ mặt nhìn nhau, thế rồi họ quay lưng lại, cởi hết áo sống, rồi cứ thế lùi dần xuống suối cho nước ngập đến tận cổ.
Tối về, sau khi cơm nước xong anh kỹ sư với cậu công nhân tắt nến đi ngủ sớm, nửa đêm bỗng anh kỹ sư tỉnh giấc, cậu công nhân quàng tay qua người anh:
- Anh ơi, như là em sốt ấy.
Anh kỹ sư sờ tay lên trán cậu công nhân nhẹ nhàng:
- Sốt đâu mà sốt?
Lại nghe cậu công nhân thì thầm:
- Cơ mà em nhớ vợ em lắm.
Từ đấy cho đến sáng, anh kỹ sư cũng không ngủ được.
- Chả nhẽ cái thân hình trần như nhộng được nhìn thấy từ đằng sau của hai cô giáo người mường đi giật lùi xuống suối để tắm lúc ban trưa lại ám ảnh đến như thế hay sao?
Nhâm nhẩm tính, anh kỹ sư chợt buông tiếng thở dài:
- Chà hơn ba tháng rồi vẫn chưa về thăm vợ con được lấy một lần.
Rồi anh thiếp đi, để lại trong thực tại tiếng nước chảy róc rách của con sông Bưởi bên cạnh nhà, trong giấc ngủ chập chờn của anh vẫn văng vẳng đâu đó lời cô thanh nữ dường như vừa tắm dưới sông Bưỏi vừa hát bài hát " Suối mơ” đã được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác từ thật lâu lắm rồi.
"Suối mơ...
Bên rừng thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng.
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương
Tháng ba âm, đầu tháng mưa lất phất kèm với rét, từ bên kia cầu Vĩnh
Tuy chỗ Cự Khối đi về đến tận Phương Trù Tứ Dân huyện Khoái những ngày
này cứ một đoạn lại gặp ven đê những ngôi đình có cắm cờ ngũ sắc, nơi họ
còn treo khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng "Chào mừng quí khách về lễ hội
truyền thống quê hương” dưới đình họ mang kiệu từ hậu cung ra sắp đâu
vào đấy, quanh đấy họ kê rạp chuẩn bị nấu cỗ, liền ông người thì mặc
quần áo quan đội mũ cánh chuồn đi hia,người thì mặc áo xanh đội mũ xanh
đi guốc mộc, người thì khăn xếp áo the ,liền bà người thì mặc áo vàng
đội kiềng vàng, người thì mặc áo xanh vấn khăn
Lế hội chắc ở đâu cũng giống nhau, đầu tiên là thắp hương, khấn vái đọc
sớ ở đình,rồi rước kiệu sang chùa, đi trước kiệu là những người cầm cờ
ngũ sắc, rồi đến thanh niên kéo cái xe cải tiến gõ trống, rồi đoàn người
cầm binh khí bằng gỗ gươm đao giáo mác, rồi đến những người khiêng
kiệu, có nơi họ chỉ rước từ Đình sang Chùa, cũng có nơi họ rước quanh
thôn, rồi cũng rước cả rồng nữa
Tháng ba ở nhà quê cấy xong chả có việc gì,những ngày hội thế này đông và vui đáo để
Tôi sang Năm Mẫu Tứ Dân vào một ngày tháng ba như thế, hôm ấy là lễ hội ở
Năm Mẫu và Phương Trù, tôi gặp dòng người rước kiệu từ đền Ngự Dội đi
quanh thôn Năm Mẫu rồi lên đê qua Mạn Xuyên ,Tây Trù đến Phương Trù. Mưa
đường nhầy nhụa đất mà cả ba ngày lễ hội ngày nào cũng đông người đi
dự, người đi xem cũng đông, tôi cũng gặp trên đò sông Hồng các cháu học
sinh lớp tám lớp chín bên xã Tự Nhiên Thường Tín cũng sang để xem.
Mấy tay ở xa đến xem rồi kể với tôi:
- Gớm Thánh Nhập vào đám khiêng kiệu bác ợ, họ chạy băng băng xuống bãi
lao cả xuống sông Hồng, cả đám người chạy theo sau để giữ kiệu chạy theo
mà chả được, lao hẳn xuống sông nước lút đầu kiệu quay quay mà người
khiêng chả làm sao.
Tôi nghe đến đấy mới buột mồm:
- Thế á
Người kia tiếp:
- Vâng đám khiêng kiệu như là bị nhập đồng ấy.
Thì đấy,trên đường tôi đi từ chỗ UBND xã Tứ Dân đến đền Ngự Dội tôi vẫn
nhìn thấy những người đàn bà áo vàng quần trắng đi ủng cao su, các cô
gái má hồng mặc quần bò đi ủng khóac cái áo tứ thân khiêng kiệu, mấy đứa
thanh niên quần bò áo trắng khoác cái áo lính lệ ( giống quân tốt đỏ
trong bộ tam cúc) đi rước kiệu trên con đường nhầy nhụa đấy thôi.
Hôm qua tôi nói chuyện với mấy ông già trong vườn chuối ở thôn Năm Mẫu về lế hội ngày hôm kia, tôi nghe được rằng:
- Lễ hội năm nay, mỗi khẩu đóng hai trăm cò, nhà sáu người đóng một triệu hai
Tôi hỏi lại:
- Tính suất đinh thôi hay cả liền ông liền bà
Họ trả nhời:
- Tính cả.
Chiều nay trên đò sông Hồng từ thôn Năm Mẫu sang An Cảnh,trên đò có mấy
người chở chuối xanh sang bên kia sông, tôi mới nói chuyện với họ, và
biết được rằng:
- Qua tết giá một buồng chuối như trước tết khoảng hai tháng, năm mươi
cò một buồng như tôi đã mua, nhìn những buồng chuối buộc sau xe máy,tôi
mới nhẩm một khẩu đóng lễ hội qui ra chuối là bốn buồng
một nhà sáu người đóng tiền lễ hội là hai mươi bốn buồng chuối
Vẫn nhớ tôi cũng hỏi họ rằng:
- Vậy mỗi khẩu đóng hai trăm cò thì ai cũng được nhờn môi chứ?
Cái người đàn ông hôm kia giải thích rằng:
- Không, là chỉ những người khiêng kiệu với cầm cờ gõ trống được nhờn môi thôi..
Thì ra thế
Tôi ngắm nhìn những người đàn ông qua đò đi bán chuối sau mùa lễ hội, ngắm những buồng chuối xanh giá 50 cò một buồng.
Tự dưng tôi muốn thở ra rằng:
- Cơ mà chả có tiền thì chắc là cũng chả có lễ hội, có rước kiệu và nhờn môi đâu nhỉ?
Bố khỉ thế mà ,ngày xưa, lúc tôi mới nhớn cứ nói gì liên quan đến năm xu một hào, người ta cứ bĩu môi mà dè bỉu rằng:
- Ư toàn nói chuyện vật chất tầm thường..












Quán là một phần được vẩy thêm ra từ mặt chính ngôi nhà sát đường gần ngã tư rẽ vào chợ (Gọi là vẩy là vì họ xây một bức tường thấp, gác mấy cây tre lên bức tường ấy một đầu vào tường,một đầu vào tường nhà mặt chính rồi lợp phi bờ rô lên ), vợ chồng chủ quán chừng ngoài 50.Thực khách ăn hàng sáng chủ yếu là những người buôn và bán hành từ sớm. Vì là bán cho những người chủ yếu là lao động chân tay nên những thức quán bán buổi sáng cũng chẳng có gì cầu kỳ, tiết canh, bánh đa cua, bún, mì, và phở .
Chỉ có bánh đa cua là nấu hơi khác, bánh đa được trần rồi chan nước riêu cua,mấy miếng đậu phụ rán thái nhỏ, thêm mấy miếng chả, cũng có khi họ cho chả như ta rán thịt quấn lá lốt vào, rau sống xà lách, thân chuối để trong cái bát trên bàn, còn thì phở,bún,mì cũng cùng một nồi nước dùng, ai muốn ăn phở bò, họ chan nước ấy trần tý thịt bò là phở bò, còn bún hay mỳ đa thì cũng nước ấy cho thêm mấy miếng thịt lợn ,mấy miếng chả thịt lợn tý rau sống giá vào là được một bát phục vụ khách.
Ai mới vào ăn lần đầu thì cũng thấy là lạ, ở đây thực khách họ ăn mỳ,bánh đa,bún phở thường đập vào đấy một hai quả trứng vịt lộn đã luộc.
Bắt chước dân địa phương, có thể người ấy nay xơi bát bún, kia bát mỳ,kìa bát phở , và lần nào cũng không quên bảo chủ quán cho vào đấy một quả trứng vịt lộn.
Xơi xong, cắm cái tăm vào mồm trả cho chủ quán mười lăm cò tiền bữa sáng, nghe được câu PR của chủ quán rằng ở đây thức ăn sáng giá rất chi là bình dân.
Có thể người ấy cũng phân biệt ra ở nơi nhà quê ấy khác chốn thị thành là những thứ đưa vào dạ dày lúc ban sáng ấy, chưa cần đến thật là ngon,cầu kỳ mà chỉ là đủ để cho những em gái ,em giai, chị xồn xồn ,anh trung niên lại sức để đến mai lại dậy sớm ra chợ.
Âm ấm cái bụng rồi có thế ai đó chửa vội vàng mà đi, bước sang cửa hàng bán nước chè bên cạnh làm cốc nước chè nóng giá hai cò,nghển mặt ra đường ngó người ta vừa cân hành, vừa nói chuyện thời giá.
- Ừ mà biết đâu đấy, sau bát bún có trứng vịt lộn, cốc nước chè , trong lúc nghển cổ ngó ra đường lại hóng hớt được câu chuyện về một ai đó hay thật là hay.
Sáng nay ở chốn thị thành, xơi bát phở sáng 30 cò, rồi tạt qua quán cà fê, vừa nhâm nhi cốc cà fê ngó qua cửa kính nhìn những người lên lên xuống xuống xe buýt, nhớ đến khung cảnh quán quà sáng ở gần chợ nơi chốn quê:
- Chả biết hôm nay ở đấy, có còn cô thanh nữ chưa chồng buôn hành rẽ vào đấy, sau khi xơi hết một bát tiết canh và bát bún tướng , cười hể hả rồi chém gió chuyện trong làng ngoài xóm
( Đếch phải chuyện xứ U cờ ren và Cờ rưm mà trên ti vi họ vẫn nhắc hàng tối trên màn hình ) với những thực khách quen hay không?
Lâu rồi tôi có viết một bài viết về SaPa trong đấy có một đoạn tôi kể sơ sơ chợ tình SaPa, đọc xong có một nhà báo nói với tôi :
-Bây giờ chợ tình SaPa thương mại hóa rồi, du lịch phát triển đồng nghĩa với sự thay đổi,vui buồn lẫn lộn.
Một nhà báo ở Tuyên Quang lại bảo:
- Nếu là chợ tình,nguyên sơ và bản sắc chỉ còn ở Khau Vai Mèo Vạc Hà Giang.Phiên chợ ấy một năm ngày 27/3âm lịch hàng năm.
Tôi có dự định thế nào cũng sang Khau Vai một lần…
Tôi đã kể với ai đó:
- Tôi thường đi bên này của bờ sông Nho Quế (Trên đất Bảo Lâm-Cao Bằng) bên kia sông là Mèo Vạc - Hà Giang là xã Khau Vai, những lần tôi đi vào đến Lũng Mần,mấy đứa công nhân có vẻ hiểu biết chỉ cho tôi thấy,trên một quả đồi cao có mấy nóc nhà rồi nó bảo xa xa kia là Khau Vai đấy,tôi nhìn con đường mờ mờ ven những dãy núi đá,tôi hỏi:
- Con đường ấy dẫn đi đâu nhỉ?
Đứa khác trả lời:
- Đó là con đường dẫn vào thủy điện.( Sau này tôi mới biết, đó là con đường đá chạy ra thị trấn Mèo Vạc Hà Giang)
Những gì tôi biết về Khau Vai cũng là đứng từ xa ngó lại như thế.
Hôm vừa rồi, vào một ngày mùa thu trời nắng ,tự dưng tôi chợt có ý định sang bên Hà Giang xem xã Khau Vai mà tôi từng được nghe trong các câu chuyện kể như thế nào?
Tôi mượn xe máy của cậu chủ quán cơm tên là Lưu ở thị trấn Bảo Lạc, tôi đi 40 km đường liên xã qua Thượng Hà,Cốc Pàng,Đức Hạnh đến điểm trưởng tiểu học Chè Lỳ tôi men xuống sông Nho Quế qua mảng và đi lên xã Khau Vai.
Từ dưới bờ sông đi lên,trung tâm xã Khau Vai chỉ có mấy dãy nhà cấp 4 của dân ven đường,có một ngôi trường hai tầng dành cho học sinh nội trú của xã Khau Vai.
Tôi vào chợ Khau Vai, hôm ấy không phải phiên chợ,chỉ có một hàng thịt lợn với mấy người dân đứng xung quanh,tôi hỏi một người:
- Hôm 27/3 âm lịch người ta họp chợ tình ở đâu hở bác?
Người ta trả lời:
- Ở đây và ở trên kia trên ấy cũng có chợ và một ngôi nhà gỗ hai tầng nữa.
Tôi đi xe máy lên trên đó, ở đấy người ta đương xây kè để giữ địa điểm là nơi có chợ tình họp cho khỏi sụt lở đất vì mưa gió.
Tôi ngắm những ngôi nhà,nhìn thấy ven đường trước sân người ta phơi những củ cây rừng giống như những củ,những rễ cây mà tôi nhìn thấy hôm ở cột mốc 535 mẹ con người San Chỉ mang bán cho người Trung Quốc ở bên kia biên giới.
Tôi lạ lẫm nhìn những cháu bé ngồi chơi,những người dân đương đi địu thân cây ngô đã khô về để làm chất đốt.
Lần đầu tiên tôi tận mắt thấy Khau Vai,thấy những con người ở đấy,nơi một năm ở đấy có một phiên chợ tình,mà rất nhiều nơi cho dù cuộc sống sung túc hơn,điều kiện sống tốt hơn mà không thể có được.
Tôi cầm máy ảnh,ghi lại những khoảnh khắc tôi ở Khau Vai trong một ngày không có phiên chợ,một Khau Vai nổi tiếng trong văn trong thơ, rất nghèo nàn và thiếu thốn
Vừa chụp ảnh tôi vừa tự hỏi mình:
-Chả biết đến bao giờ..miền núi mới đuổi kịp miền xuôi đây?
Nguyễn Minh Quang
Khau Vai 28/10/2011
“Từ Cầu Giấy bắc qua sông Tô Lịch theo con đường quốc lộ đi đến
Nhổn,cứ đi thẳng sẽ đến Đan phượng, Hoặc từ Hà Đông qua cầu Am đi đến
Nhổn rẽ trái cũng đến Đan Phượng”
Bác mình ngày xưa bảo thế.
Bác
là con dì con già với mẹ mình hồi trước lấy chồng trên ấy.Mình thật ra
không biết nhà bác hồi ấy ở xã nào trên đất Đan Phượng:
- Liên Hà
hay Liên Trung? Trung Châu hay Đồng Tháp? Mẹ mình bảo bác ấy lấy chồng
xa ở Kẻ Giầy,sau này mình biết Kẻ Giầy là ở xã Liên Trung xưa chuyên làm
guốc mộc
( Mẹ mình với bác ấy đều quê gốc xã Vân Canh- người ta hay bảo cam Canh, bưởi Diễn- quê mẹ mình là đất cam đấy…)
Những
năm 196x bác đi ô tô Sơn Tây- Hà Đông và về nhà mình .Bác nhờ bố mình
dẫn đi viện để chữa bệnh dạ dày,đận ấy anh em mình ăn đến no bị bưởi và
thị bác ấy mang xuống ( Thị thơm cũng chén)
Mấy năm sau, chị cả nhà bác ấy cũng về nhà mình để nhờ bố mình đưa đi chữa bệnh.
Có
lần chị kể cách nhà chị mấy cây có làng Đăm thuộc xã Tây Tựu Từ Liêm.
Vào tháng 3 âm lịch hàng năm ở đấy có tổ chức hội đua bơi thuyền nhiều
người đến xem lắm. Sau này cả bác gái mình và chị họ mình đều mất ( Bác
gái thì bị bệnh dạ dày, chị đâu như là gan,ung thư cả) mình ở bộ đội nên
cũng chả biết mà về phúng viếng.
Quãng năm 1986-1987 Sư đoàn điều
tăng cường cho đơn vị mình mấy tay đại úy ở trung đoàn bên cạnh,trong ấy
có một tay đại úy người thị trấn Phùng ( Giờ làm ở Bộ Xây Dựng chỗ Vân
Hồ)
Có lần mình nói với hắn:
- Con gái thị trấn Phùng nhà các Ông xinh lắm
Hắn bẩu:
- Sao biết
Mình kể :
-
Đận vừa rồi về phép tớ lên nhà thằng bạn chơi ,con em nó học đại học
rủ về một đứa con gái cùng học với nó tên là Thủy.Lúc tớ đến,chúng nó
đang nấu cơm.Cái Thủy ngước mắt lên chào , tẹo nữa thì rụng cuống
tim.Không biết Thúy Kiều trong truyện Nguyễn Du xinh thế nào? Chứ tớ
nhìn con bé này chóng hết cả mặt.
Tay đại úy kia trả nhời:
- Hình như biết con bé đấy,nó xinh nhất thị trấn Phùng
Mãi
sau này có dịp mình đi về nhà một đứa cùng làm với mình ở Xã Cổ
Đô-Huyện Ba Vì,lúc quay về Hà Nội mình theo đường 32 đi qua Đan
Phượng,con đường quốc lộ lúc bấy giờ trở nên chật hẹp,thị trấn Phùng
cũng nhiều nhà ống như những thị trấn mà mình đã đi qua.Con đường đầy
bụi ai cũng lấy khăn che mặt, đi hết thị trấn mà chả gặp nụ cười có thể
làm chết người như hồi nảo hồi nào.
Sau xuân
Mình đi Yên Tử, lúc
vào Chùa Giải Oan đi ra gần đến chỗ bán vé cáp treo có hai người đàn ông
mồ hôi nhễ nhại đang ngồi thở,lại gần mình mới hỏi:
- Đi có từ dưới sân lên chùa Giải Oan mà đã thở ư?
Một người lắc đầu, bảo:
-
Chúng em mua vé cáp treo lên đến chùa Hoa Yên, bảo chỉ mua một lượt lên
rồi đi bộ xuống, chẳng ngờ trời mưa đi bộ xuống nhọc quá.
Nói chuyện
một lúc nữa, mình biết hai người đàn ông ấy người Đan Phượng, họ đi từ
nhà là lúc bốn giờ sáng đến đây là bẩy giờ mua vé đi cáp treo lên chùa
Hoa Yên để lễ rồi xuống, chứ không lên chùa Đồng.
Trước khi chia tay họ mình nói:
-
Vừa rồi ở xã Hồng Hà Đan Phượng hội vật vui thế còn gì? Tớ thích nhất
màn chào hỏi dưới tiếng trống hai tay đô vật vừa khoắng tay vừa nhẩy
tưng tưng..
Một tay thấy mình nói thế cười với mình:
- Ấy hội vật ấy là trên đất làng này đấy, vậy bác người đâu mà cũng biết đến hội vật xã Hồng Hà?
Chợt nhớ nhà bác mình ở Kẻ Giầy Liên Trung Đan Phượng xưa, mình mới cười cười trả lời :
- Tớ ở Kẻ Giầy.
Một trong hai người ấy vui vẻ
- Ô đến đây mà cũng gặp người nhà
Rồi chúng mình chia tay nhau.
Theo
dòng người đi hành lễ,mình trèo từng bước lên chùa Hoa Yên, đến Bảo
tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông ,chùa Đồng rồi xuống,mình vào khu dịch
vụ ăn nghỉ Yên Tử làm bát bún,gói chè lam rồi nhìn ra dòng người đương
đi lại tấp nập ngoài kia
- Có ai là người Đan Phượng,Hồng Hà,Liên
Trung ngoài hai người đàn ông mà mình mới gặp khi sáng nhỉ? Biết đâu xa
xa kia lại có cô Thủy người thị trấn Phùng thật xinh mình đã gặp trên
nhà đứa bạn ngày xưa cũng nên?
Nay đi làm về sớm, xong việc ngồi nhá
miếng chè lam mua hôm nọ, nhớ đến Yên Tử, hai tay người Đan Phượng thở
hổn hển,nhớ đến điệu chào vừa cúi vừa giật lùi rồi nhẩy tưng tưng chào
khán giả ở hội vật xã Hồng Hà Đan Phượng hôm tết, lôi mẩu chuyện đã viết
từ rất lâu về Đan Phượng, em Thủy viết lại cho mới, và để nói với ai đó
rằng:
- Đan Phượng với mình có rất nhiều kỷ niệm đó nha.




