Trang

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

CÁNH ĐỒNG SAU VỤ GẶT CUỐI THU.

Sau vụ gặt cuối thu.Ngoài đồng chỉ còn gốc rạ khô úa có  màu nâu nâu, cánh đồng vắng và vì thế mới nhìn thấy những đàn cò trắng vốn nhút nhát đang đậu trên bờ xanh xanh của mương dẫn nước tưới tiêu cho cánh đồng sau khi kiếm ăn.
Gần đấy, trong lòng một mương đã cạn gần hết  nước, có vài người đi nhặt ốc bắt cua, tôi đi lại gần một em đang đánh dậm, nàng đội nón, khăn che gần kín mặt đeo hai cái giỏ thật to ở thắt lưng,  nàng khom khom nhặt ốc, rồi lại quăng cái dậm ra đằng trước rồi lấy cái thanh tre buộc cái dây lấy chân dậm dậm.
Cuối thu,nước cạn, người nông dân cố gắng kiếm được cái ăn ngoài đồng đem về kể cũng nhọc nhằn, hàng ngày, mỗi khi đi chợ, ai đó dừng lại hở hàng bán cua hay hàng bán ốc, khi chọn chọn nhặt nhặt những thứ mình sẽ mua về để nấu ăn cho chồng cho con chắc chả bao giờ nghĩ cái cách mà người ta bắt chúng thế nào? Tôi đứng nhìn  cô em đánh dậm lại nhớ chuyện xưa phì cười:
–  Là thế này, hồi ấy lâu lắm rồi, khi tay Trần Đăng Khoa còn bé, trong một bài thơ đọc được của tay ấy về chuyện đi đánh dậm, nhưng  trên cái cánh đồng bọn trẻ mới đánh dậm  ấy người ta dẫn tù binh lái máy bay Mỹ đi qua nên bọn trẻ bảo nhau, đổ hết cá, ốc bắt được trong một ngày  đi  ( Không mang về để nấu ăn ) vì rằng:

- Phi công Mỹ đã  lội qua nơi chúng nó mới đánh dậm (Bịa thế là cùng, nhưng vì để hun đúc lòng căm thù cho thiếu nhi, bài thơ ấy sau  được đăng báo,in thành sách cho trẻ con đọc và học )
Tôi đứng xem  cô em đánh dậm một lúc thật lâu,mà nàng mải mê nhặt nhặt chẳng ngửng lên để người khác ( là tôi ) biết mặt. Hồi trước  lúc còn ở bộ đội , trong một lần uống nước chè với một tay sĩ quan mới trả phép nó hồ hởi kể:
– Chiều đó, khi biết tin em về, vợ em đang bắt cua ở ngoài đồng chạy về,quăng cái giỏ ra sân và đi tắm luôn.
Nói xong nó cười,nhe hai hàm răng trắng trông thật là vui.
Bây giờ, cuối thu đi trên cánh đồng đã gặt, con mương đã cạn, ngó cô em đánh dậm, tôi  nhớ đến nụ cười hôm nao của tay sĩ quan trẻ cùng đơn vị sau khi lên trả phép.
Và  cũng nhỏen miệng vì những ý nghĩ ấy :
– Để tìm những khuôn hình đẹp trong cuộc sống, đâu  phải lặn lội đi tìm ở những đâu thật xa mới có ? Nó ở ngay đằng kia, chỗ đàn cò và cô em gái đang đánh dậm đấy.



CUỐI THU TRỜI TRỞ MÁT.

Cuối thu, đi ngoài đường thích thật, gió thổi vào mặt thấy mát mát lành lạnh, không khí có vẻ khô hơn, Hà Nội, Sơn La,Hải Phòng vẫn còn hương hoa sữa, trưa thấy đói, nhớ xưa:
-Hơi lạnh như thế này ở chỗ sơ tán, buổi trưa đi học về ăn được bát cơm với canh dưa nấu với cá mương, hồi ấy sao mà ước vọng nhiều thế ? Xem phim chiến đấu của Liên Xô cũng mơ trở thành người này người kia, mấy chục năm qua đi, một tý giấc mơ ấy đã trở thành hiện thực, sĩ quan ( đến đại úy) kỹ sư, đảng viên, đến khi hưu hắt cũng đã được người ta xếp lương chuyên viên chính hết bậc. Giờ, sau khi đã ba chìm bẩy nổi, cũng chả mơ gì nữa, và lòng tin cũng chả dám phung phí như xưa.
Thế.
Đi đường đói bụng, thấy thèm ăn ( Chà, đó là ý nghĩ thiết thực nhất bây giờ ).
Phóng xe máy vượt qua ngã 4 Quán Thánh- Đặng Dung vội nhìn thấy bên phải có hàng quẩy:
– Buổi sáng ăn phở, thấy họ có quẩy bán ở đấy, cứ vừa ăn vừa thắc mắc, họ rán quẩy ở đâu ? (Thời phá hoại Miền Bắc lần 1 của Giôn Xơn, ra bến xe Kim Liên, lũ trẻ giờ chả biết bên xe Kim Liên ở chỗ nào ? Ở đấy có mấy người bán hàng rong rao bán quẩy với cháo buổi sáng, mua mấy cái quẩy vài hào bạc,ăn vào nhớ đến tận bây giờ.)
Dừng xe, dắt lui lại, mua của cháu bé mấy chục cò tiền quẩy, quay về, trong khi phóng xe máy cũng kịp nhận ra:
– Bên tay trái gần ngã 4 ấy, có một quán phở gà ta.
Nay.
Trong một trưa thu ( Có nên gọi là buổi sáng mùa thu cho nó văn vẻ không ? ) mát giời, vừa ngồi vừa chấm quẩy vào bát nước chấm vừa nhai và nhớ thu Hà Nội một thời rất xa, thời ấy ở Hà Nội có tiếng tầu điện leng keng..




BIỂN CẠN.

Lâu rồi ( thật là lâu ) một lần, đang nằm nghỉ trưa, chợt nghe tiếng điện thoại tin tít, mở máy ra đọc, nàng viết:
– Em về nhà nghỉ, cơm xong, nghe Quang Dũng hát biển cạn nhớ một ngày, đã cách đây mấy chục  năm, khi còn là binh nhất anh ạ.
Nhiều ngày sau, tìm nghe bài hát, biết thêm tác giả sáng tác ra bài này là một người chuyên đánh đàn ghi ta, kh
ông nhớ nhiều nhưng lúc ấy gần như thuộc bài hát ấy.
Ngày 2/9 năm nay, họp lớp 10, ăn uống xong xỏ giầy chuẩn bị về, bạn bảo:
– Ở lại tý, hát cho nó vui ( Vừa nói bạn vừa đánh mắt sang một thiếu phụ năm ngoái có mấy cái tang)
Ừ thì hát
Trên màn hình, các bạn đặt bài hát Biển Cạn, đứng một lúc ngớ ra ( Quên hết rồi- Mới có mấy năm từ cái ngày nhận tin nhắn trong máy điện thoại ấy)
Lúc sau về.
Lục trong đống sách báo cũ, một bản nhạc và giai điệu cũ, một tay mổ cò trên bàn phím một tay giở:
– Lá đồ, mì la sí la rề.
Mấy nay xa nhà, trời lạnh, khuya nhớ đến câu chuyện cũ, ngồi dậy,  bật cái bài hát hôm nọ đã tập có trong máy điện thoại , ngồi nghe và lẩm nhẩm hát theo:
– Cùng tôi biển chết, cùng em biển tan,ngàn năm nỗi đau hóa kiếp mây ngàn cô đơn biển cạn.
Trong tiếng réo rắt của giai điệu, thở dài:
– Nàng, cô binh nhất thủa nào, bây giờ, có còn nhớ tới một bài hát về tình yêu dang dở, mà nàng nhắc tới, trong một tin nhắn đã rất lâu rồi không nhỉ?



Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Bộ quân phục Sĩ quan.

Quãng năm 1987-1988 tôi đeo quân hàm đại úy, thời đó quần áo của sĩ quan là bộ đờ luyn k82 với mũ mềm ( Không có mũ kê pi và cầu vai như bây giờ). Tháng 05/1989 tôi ra quân, vì tiếc rẻ mấy bộ đờ luyn còn mới, tôi đến chỗ làm, thường mặc những bộ quần áo thời ở đơn vị bộ đội ( Tất nhiên là không đeo quân hàm). Một người cùng làm với tôi nhìn thấy tôi ăn mặc như thế mới góp ý:
- Ra quân rồi, làm chỗ khác, mặc những bộ quần áo như thế làm gì, thay bộ khác đi.Tôi thấy anh ấy nói thế, nghe theo, từ bấy đến giờ trừ những khi có sự kiện đặc biệt mới mặc com lê, chứ thường thì mặc quần bò với áo sơ mi, hôm nào rét thì mặc ở ngoài cái áo bu dông cho nó dân dã.
-----------------
Nhiều năm sau, khi con cái đã lớn, tôi bắt đầu sinh hoạt ở hội Cựu chiến binh ở phường, nơi gia đình tôi có hộ khẩu thường trú.Có một vài lần vào đúng ngày 22/12, tôi có việc ra phường, tôi gặp ở đấy những người cựu sĩ quan như chúng tôi đến họp mặt, nhiều người mặc quân phục sĩ quan có đeo cả quân hàm cấp bậc trước khi về hưu.
Mặc dù tôi ra quân, nhưng các bạn tôi ( Học cùng HVKTQS ) nhiều người còn tại ngũ, phần lớn đeo quân hàm đại tá ( chỉ có một hai người lên thiếu tướng), mỗi lần về Học viện họp mặt tôi thấy bạn bè tôi mặc những bộ quần áo sĩ quan hiện tại, tôi có nhận xét:
- Quân đội giờ đã chính qui hiện đại hơn thời tôi còn tại ngũ.
Lúc ấy tôi muốn có một bộ quân phục như thế, mặc vào những dịp họp lớp với bạn tôi thời còn học Học viện Kỹ thuật Quân sự, hoặc mặc nhân kỷ niệm ngày thành lập quân đội hàng năm.
---------------
Tôi kết thân với  một chú em là thiếu tá ở quân khu 9 ( người Nhuế Dương Khoái Châu)  có một lần nào đó, khi tôi đi Việt Trì, trong lúc nói chuyện với nhau bằng điện thoại , tôi có kể với chú ấy những điều tôi đã từng nghĩ
Hôm vừa rồi chú ấy ra Hà Nội họp, nhớ điều tôi đã nói với chú ấy hôm xưa, chú ấy  mang tặng tôi một bộ quần áo sĩ quan có cả đôi quân hàm đại úy ( là cấp bậc của tôi trước khi ra quân). Nhận quà xong tôi mặc thử thấy vừa và cũng thấy thích.
Mấy hôm sau khi gặp chú ấy,  tôi đi lên Sơn La, ở đấy tôi gặp và quen một tay sĩ quan  về hưu, chúng tôi nói chuyện với nhau về cuộc sống và cuộc đời quân ngũ đã qua, trong câu chuyện tôi biết tay ấy trước ở quân đoàn 29 quân khu 2 sau này Quân đoàn giải tán tay ấy về tỉnh đội Sơn La, tay ấy nói với tôi:
- Năm nay là 70 năm thành lập quân đội đấy ông ợ.
Trước khi tôi lên Sơn La , tôi thấy ở Hà Nội người ta đã treo băng cờ khẩu hiệu kỷ niệm 60 năm ngày " Giải phóng thủ đô " chứ tôi cũng không nhớ quân đội nhân dân Việt Nam năm nay tròn 70 tuổi.
Tôi bèn trả lời :
- Chà Quân đội ta đã đến tuổi " Thượng Thọ" rồi cơ đấy, mà chả biết năm nay có ăn to không?
Hắn nhìn tôi cười:
- Hưu với ra quân rồi, ăn to hay không là tự mình cho mình chứ.
Tôi gật đầu:
- Thì tôi cũng muốn năm nay nhiều nơi ăn to ông ạ
Chuyện xong,chúng tôi chào nhau rồi về, trước khi tôi quay đi, tay cựu sĩ quan ( tôi quen ấy) chạy vào nhà mở tủ đưa tôi một cái mũ sĩ quan:
- Tôi biếu ông để về xuôi đến hôm ấy ăn Thượng thọ quân đội.
Tôi mừng rỡ cám ơn, bắt tay hắn rồi về.
Trên đường về, vừa đi tôi bảo với tôi:
- Thế là đến ngày 22/12 tới đây, nều thích tôi có đủ một bộ quần áo sĩ quan QĐNDVN đời mới để đi ăn cỗ rồi.
Vui thật.
Tôi định rằng:
- Sau khi xuôi về đến Hà Nội, tôi sẽ mặc cả bộ rồi lấy cái máy ảnh chụp một bức ảnh, rồi gửi cho chú em ở quân khu 9, để chú ấy xem, sau mấy chục năm đã ra quân, rồi có một lần, tôi mặc bộ quần áo ấy, thì trông tôi như thế nào?

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

VIẾT Ở MỘT GÓC CHỢ KỆ ( NINH SỞ-THƯỜNG TÍN)

Cách đây tầm bảy tám năm, chỗ chợ Kệ này đường là đường đá chưa rải nhựa ( Chợ họp hai bên đường ở một ngã ba có đường lên đê và đường chạy sang xã Vân Tảo) sau cơn mưa trên con đường chính giữa chợ, đoạn lên đê,rất nhiều những vũng nước ngập,phải mấy ngày nắng sau cơn mưa mới khô trở lại.
Đây là làng công giáo thuộc giáo xứ Bằng Sở ( không biết dân công giáo chỗ khác thế nào chứ đây giáo dân nơi đây , họ hay xơi thịt chó lắm, mà chợ Kệ thì bán đầy thịt chó).
Xưa.
Lúc bố tôi còn sống, có một bệnh nhân được bố tôi cứu sống, là người ở đúng chỗ chợ Kệ này, hồi đó vì ơn cứu mạng, trong những ngày giỗ chạp ở đây người ta thường nấu món thịt chó, bác ấy hay mời bố tôi xuống tận đây để ăn. Những năm ấy đường đi từ BV Việt Đức chỗ phố Tràng Thi xuống đến chợ Kệ là cả một quãng đường thật là dài , mà lại mưa phùn gió bấc như hôm nay.
Những ngày ấy , tôi hay nghe mẹ tôi lầu bầu:
– Bố mày, ai mời chén, xa mấy cũng đi.
Tôi nhìn mẹ tôi và nhìn mâm cơm chỉ có dưa cải muối với bát nước cà chua với ít lạc rang, ngạc nhiên:
– Mẹ tôi tuy làm nghề y nhưng không hiểu rằng,bố tôi thường phải mổ gan, mật , dạ dày, ruột già, ruột mỏng, những lúc gặp ca mổ khó thì phải đứng đến sáu tiếng ban đêm, mà tiền bồi dưỡng cho một ca mổ lúc bấy giờ Bệnh Viện  trả cho bác sĩ và các nhân viên trong kíp mổ, không bằng giá tiền,mấy tay ngồi gốc cây  kiếm được khi vá một lỗ thủng ở cái săm xe đạp.
————–
Nay.
Địa phương có Chợ Kệ đã được sát nhập vào Hà Nội, tuy mang tiếng là Hà Nội 2,nhưng giờ đường xá đã đẹp hẳn lên (đường từ thôn ba Vạn Phúc đến chợ Kệ được rải nhựa phẳng lỳ),hôm nọ Hà Nội kỷ niệm năm năm ngày Hà Tây sát nhập vào Hà Nội , một người quen của tôi có bảo:
– Chú viết bài về nông thôn Hà Nội đổi mới đi.
Tôi trả nhời:
– Chả biết viết về cái gì? Chẳng nhẽ viết về đất ở Vân Canh đương ế, viết về cái thành phố nhỏ nhỏ sơn màu trắng bỏ hoang ở bên tay phải đường đại lộ Thăng Long từ Hà Nội lên Xuân Mai đương nổi lên giống quang cảnh trong phim ngày xưa về Trung Á Những lâu đài ở giữa sa mạc?
Người đó nghe cười:
– Thì viết về nguyên cớ những ông mất ruộng ra bến xe búyt làm xe ôm vậy?
Tôi nhìn chằm chằm vào nói:
– Chà nó biết mà cứ thử mình?
—————
Ban sáng. 
Tôi đi chợ Kệ, cũng như mọi lần có ý ngó ngó nghiêng nghiêng để tìm tý cảm xúc viết về một chợ Kệ sau mấy năm mới có dịp quay trở lại,chen trong dòng người đi chợ mua mua bán bán , tôi dừng xe giơ máy ảnh lên chụp mấy em hàng thịt, mấy chị bán cá
Đương say sưa bỗng giật mình bởi câu nói:
– Không mua thì chụp ảnh làm cái gì?
Mới quay về thực tại:
– Thì ra với nhiều người buôn buôn bán bán, họ chả thích ai nói, chụp ảnh và kể về họ, mà chỉ mong cho chóng bán được một món hàng?
Thì đấy:
– Tiền vẫn là tiên
Và chắc là rất đúng không phải chỉ ở mỗi góc chợ Kệ này.

23/11/2013

Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

HOA HÒANG LAN



Từ ngày hòa bình lập lại cho  đến trước những năm 199x. Nhà Bác ruột tôi  ở số nhà 11 B Ngõ Yên Thế .
Ở  Hà nội chắc có nhiều người cũng không biết tường tận về cái ngõ ấy ?
Vậy  thì là thế này:
- Phía to của ngõ là đầu đường Nguyễn Thái Học, cuối ngõ hẹp  như cổ chai  và được thông ra phố Sinh Từ tên gọi ngày xưa của phố Nguyễn Khuyến.( Tôi nhớ hồi chiến tranh phá hoại bố tôi  bảo đầu ngõ phía đường Nguyễn Thái Học là nhà Ông Nhạc sĩ Đỗ Nhuận-Còn cuối ngõ nơi ngày xưa có một nhà chuyên bán nước sôi đổ phích , tôi  thường đi tắt qua lối hẹp ấy để ra Ga Trần Quí Cáp đi tàu hỏa Lào Cai-Yên Bái)
Ngay cổng vào của số nhà ấy, có mọc một cây hoa Hoàng Lan( Lâu lắm rồi tôi  không quay lại đấy nên không biết cái cây hoa đó bây giờ có còn không? Hay người ta đốn đi để xây nhà rồi?)
Hồi ấy
Cứ vào tháng 11, tháng 12 hàng năm là mùi thơm của cây hoa ngào ngạt. Những lần trả phép về đơn vị, tôi  đều tạt qua nhà Bác chơi rồi sau đó ra ga để  lên tàu. Những lần ấy tôi hay  nhặt  mấy cánh hoa rụng xuống dưới đất, mang lên đơn vị như là mang một món quà của thành phố đi theo.
Chắc các bạn chả biết được rằng:
-Trên chuyến tàu thời bao cấp giữa tạp nham các hạng người và giữa những bu gà vịt, thúng mủng của những người đi buôn chuyến, tôi  nhìn thấy mấy cô sinh viên khoa văn của đại học sư phạm 2 Mê Linh Vĩnh Phú, mấy em ở trường Cán bộ Tài chinh Trung ương hay mấy em khoa Hóa Thực phẩm của trường Đại học Công nghiệp Nhẹ cứ ngơ ngác nhìn nhau và nhìn tôi  bởi mùi hoa hoàng lan được phảng phất ra từ hai chiếc túi áo ngực của một chàng trai bộ đội trẻ măng.
Các cô ấy cứ nhìn tôi  như muốn hỏi một điều gì ấy?
Có chăng:
- Anh chắc đã đọc câu chuyện “Dưới bóng Hoàng lan” của Thạch Lam ?
Hay  các cô ấy lại muốn khoe với tôi  rằng:
-  Anh ạ giữa mấy lớp quần áo chúng em để trong va ly, trong hòm ở ký túc xá trường đại học,chúng em có để ở giữa mấy bông hoa hoàng lan gói trong khăn mùi xoa đấy?
Thời gian trôi qua. Bây giờ người ta dùng những loại nước hoa như Chanel hay Gucci  thì câu chuyện mùi hoa hoàng lan kia  dần dần đã vào quên lãng.
-----------
Hôm qua, tôi ốm nằm nghỉ  ở nhà. Trong lúc lướt mạng đọc báo,vô tình tôi  đọc được  một câu truyện ( Ghi trong nhật ký của một cô Thạc sĩ ngôn ngữ ) kể  về tình bạn giữa cô ấy với một cô gái xinh đẹp nào đó lấy tên là hoa Hoàng Lan
Đọc xong một câu chuyện đẹp, tự nhiên tôi  có nhời giải đáp tại sao các nhạc sĩ, nhà văn lại lấy hình tượng  của hoa Hoàng lan trong các tác phẩm của mình.
Tối khuya, trước khi đi ngủ, tôi  làm một vốc thuốc ( Dùng liệu pháp xốc) cho chóng khỏi ốm để hôm nay còn đại điện cho gia đình đi dự đám cưới một người họ hàng quen biết ở mạn Thanh Trì – Hà Nội
Nửa đêm:
- Tôi  thấy người tôi  bồng bềnh trong tiếng nhạc nguyệt cầm.
Rõ ràng là tôi đang ngồi trên một bè vó trên sông ở ngã  ba Bạch Hạc  - Việt Trì.
Dưới ánh sáng leo lét của một ngọn nến giữa bàn, tôi  đang được uống rượu Bá, thưởng thức nem Phùng, và ăn món cá sông ở  ngã ba sông (nơi sông Đà và sông lô gặp nhau)
Trước mặt tôi  là một cô gái trẻ xinh xắn, tóc phi dê ngắn ôm sát khuôn mặt trái xoan, em mặc chiếc áo tứ thân thật vừa người- Đúng là Em gái thị trần Phùng huyện Đan phượng mà tôi  đã nhìn thấy  từ thủa nào. Rồi sau đó,hình như không ai nói gì cả, có nhẽ  chỉ còn có  hơi thở của sông Hồng và tiếng đàn nguyệt  vọng từ trên đỉnh núi Tản Ba Vì xuống mặt sông đầy sương.
Sáng nay  tỉnh  dậy, tôi  thấy đỡ ho hơn và không còn chóng mặt như hôm trước, nghĩ lại chuyện vừa qua  cũng không chắc chuyện đó  là thật hay là giấc mơ nữa?
Tôi bèn chép lại và bắt chước Thạch Lam tôi cũng  đặt tên cho câu chuyện tôi mới viết này  là “ Hoa Hoàng Lan”

CÂU CHUYỆN CỐC PÀNG.




Vào một ngày đầu tháng 3 năm 2011, hôm ấy, trên tờ lịch treo tường  có ghi là ngày truyền thống của bộ đội biên phòng, nhớ thật rõ ràng là lúc này, trời chuyển gió mùa đông bắc, mưa phùn nhè nhẹ, cả một vùng biên giới chìm trong mây mù.
Loáng thoáng trên con đường từ Bảo Lạc vào Cốc Pàng còn  nhìn thấy những cây đào vẫn đỏ hoa, những cây mận vẫn trắng xóa. Trên con đường chỗ thì rải đá, chỗ vần còn là nền đất lầy lội  có một cô gái chừng 24 tuổi đi xe máy qua cửa đồn biên phòng Cốc Pàng, cô ấy đi xuống ngôi trường, nơi  cô đang dạy học ở trung tâm xã Cốc Pàng phía dưới thung lũng. Nhìn qua cánh cửa vọng gác vào trong đồn , ở đấy dường như người ta đang chuẩn bị liên hoan thì phải ?băng cờ khẩu hiệu căng đẹp lắm.
-Chả có người nào mình quen cả
Thì thầm một mình rồi cô tập trung vào tay lái:
- Con đường vào trung tâm xã, xuống dốc ,quanh co,chưa được rải đá, trơn thật là trơn.
--------------------
Cô là người sinh ra ở huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng, học xong trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh  cô được phân công vào Bảo Lạc dạy học,cứ ngỡ được ở ngoài thị trấn, ai dè phải đi hơn 30 cây số đường đất nữa mới đến được trường ở tận trung tâm xã Cốc Pàng. Cũng may khi vào nhận công tác, nhà trường bố trí cho một gian chừng 14 m2, đối với mình cô thế là quá rộng rồi.
Cứ lần nào cũng vậy, đi hơn trăm km từ Bảo Lạc về đến Hòa An về thăm nhà mỗi ngày chủ nhật được nghỉ, bố mẹ cô lại nhắc cô rằng:
-Liều liệu mà lấy chồng đi để cho bố mẹ có cháu bế,con gái hai mấy tuổi rồi?
Mẹ cô đã không bênh còn thêm vào:
-Hay là về nhà mở cái quán bánh bánh kẹo đường sữa rồi lấy tấm chồng?mẹ sinh con năm hai mươi mốt tuổi đấy.
Cô cứ đánh trống lảng:
-Bố mẹ cứ nuôi thêm mấy con gà con lợn đi,rồi chuẩn bị mà bế cháu, chỉ sợ không còn sức.
 Vừa nói cô vừa nghĩ đến một cặp vợ chồng mà cô biết:
- Chị ấy dạy học tận trong Chè Lỳ -Đức Hạnh-Bảo Lâm ,còn chồng là đại úy bộ đội biên phòng ở Cốc Pàng, anh chị ấy lấy nhau hơn chục năm,họ có một đứa con vì điều kiện khó khăn ở nơi thâm sơn cùng cốc, đành nói khó với  bà ngoạ (ở ngoài thành phố Cao Bằng) trông giúp  còn vợ chồng anh chị ấy, ở trong này  gắn bó với cột mốc biên giới và lũ trẻ con người H’Mông.
Vào những ngày ở xã  Cốc Pàng có chợ phiên, cô lại có dịp  nhìn thấy anh chị ấy tay dắt tay nhau đi chợ với đôi khuôn mặt tràn trề hạnh phúc.
-  Cái mô típ chồng là bộ đội vợ là giáo viên vẫn là niềm ao ước của một ngừoi trẻ tuổi như cô bây giờ.
------------------------
Buổi tối nọ, sau khi cơm nước xong,ngồi vào bàn soạn giáo án.Cô giáo trẻ  giở cuốn sách ra cầm cái bút lên rồi lại đặt xuống bàn.
Cách đấy mấy gian nhà,là gia đình một cô giáo có chồng làm nghề  lái xe tải chở vật liệu cho mấy mỏ đá ở trong  xã. Hôm nay trong gia đình của vợ chồng cô giáo ấy có một người ở Hà Nội lên công tác,gia đình cô giáo kia làm cơm và mời đôi vợ chồng là cô giáo và bộ đội biên phòng mà chúng ta mới nghe kể ở trên  kia đến dự.
Ngồi phòng bên này cô giáo trẻ cũng cảm nhận được rằng, ở bên ấy
- Họ ăn uống và nói cười vui vẻ, qua những âm thanh vọng sang cô như nhìn thấy rõ cặp mắt lúng liếng của người vợ trìu mến nhìn người chồng gắp thức ăn rót rượu cho mình
Cuộc vui kết thúc Rồi bên nhà hàng xóm mọi người , đã về cả.
Ở căn phòng đơn bên này, chẳng ai biết, cô giáo trẻ vẫn ngồi một mình bên chiếc đèn bàn đang bật sáng.
Thật lâu,
Cô giáo trẻ đứng dậy ,mở cánh cửa và  đi ra ngoài. Đứng ngay cửa nhà ,cô ngước nhìn lên trên đỉnh dốc:
- Ở dưới thung lũng vẫn nhìn thấy những ánh sáng điện chiếu ra từ đồn biên phòng ấy.
Lặng lẽ quay vào nhà , cô nhìn quanh, và tự dưng ước mơ rằng rồi một  ngày nào đó:
-Đằng sau tấm ri đô ngăn phòng kia, sẽ có một người đàn ông của cô, trông giống mấy chàng sĩ quan biên phòng tre trẻ mà cô nhìn thấy ban sáng ấy.
Tắt đèn đi ngủ, cô cũng vẫn đinh ninh rằng:
-Hạnh phúc sẽ đến tươi tắn và cũng đẹp như nụ cười trẻ thơ của các cháu học sinh người H’mông mà cô vẫn được chứng kiến trong những giờ lên lớp.
Thế rồi cô thiếp đi, còn đó trên môi cô giáo trẻ khi mang vào giấc ngủ:
-Một nụ cười mãn nguyện khi nghĩ về tương lai.